Số người dùng online
· Khách: 10

· Thành viên: 0

· Tổng số thành viên: 54,269
· Thành viên mới đăng ký: nguynthuy99
Tuyển dụng - tìm việc
· Tuyển Nữ nhân viên Vật tư ngành in
· Tuyển dụng 02 nhân viên chế bản
· Lao động phổ thông
· Tuyển dụng nhân viên chế bản:
· Tìm việc thiết kế đồ họa
Quảng cáo của Google
Đăng nhập
Tên đăng nhập

Mật khẩu



Chưa có tài khoản hả?
Nhấn vô đây đăng ký ngay .

Quên mật khẩu hả?
Xin cấp mật khẩu mới bằng cách nhấn vào đây.
Quảng cáo của Google
Banners
Xem bài viết
 In ra máy in toàn bộ chủ đề
Tìm hiểu ngành In ở Thành phố Hồ Chí Minh
cucarot
I. Sơ lược về ngành in Sài Gòn từ khi Pháp xâm chiếm đến cách mạng Tháng Tám năm 1945

Ở nước ta, nghề in bản gỗ khắc ra đời ở kinh thành Thăng Long từ thời nhà Lý cách nay hơn 800 năm, gắn với tên tuổi của nhà sư Tín Học theo nghề truyền thống của gia đình. ấn phẩm hồi đó là sách Kinh Phật lưu hành trong các chùa chiền. Đến thế kỷ XV, dưới triều Lê sơ, Thị lang bộ Lễ kiêm Bí thư giám học sinh Lương Như Học, từng hai lần đi sứ sang Trung Quốc đã nghiên cứu thêm kỹ thuật in khắc gỗ về dạy nghề cho dân làng quê ông (Hồng Liễu và Liễu Tràng-Gia Lộc, Hải Dương), từ đó ông được tôn thờ làm tổ sư nghề in. Ngày nay, một con đường thuộc quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh được mang tên Lương Như Học.

Giữa thế kỷ XIX, khi Pháp xâm chiếm Sài Gòn và du nhập kỹ thuật in ty pô, nghề in bản gỗ khắc vẫn tiếp tục được sử dụng vì bấy giờ chữ quốc ngữ la tinh chưa phổ biến rộng rãi. Một trong những địa điểm in khắc gỗ ở Sài Gòn lúc đó là Xóm Dầu (Phụng Du phường). Hiện còn lưu lại cuốn Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu in chữ Nôm năm 1865 tại Sài Gòn. Đây là một trong số ít cuốn sách hiếm in khắc gỗ cuối cùng ở Nam Bộ.

Xưa kia, nhân dân tá hiếu học chữ thánh hiền nên quí trọng những người thợ in có công sao chép, phổ biến kiến thức. Bản thân người thợ in khắc gỗ, vốn yêu mến văn chường, chữ nghĩa, trọng đức khinh tài, đã coi nghề của mình là việc nghĩa không hám lợi danh, thao tác rất cẩn trọng, ít khi để sai sót trong ấn phẩm.

Nghề in chữ đúc (typô) đầu tiên du nhập vào Việt Nam năm 1861 tại Sài Gòn sau đội quân xâm lược của đô đốc Pháp Bonard. Xưởng in này đưa từ Paris sang, gồm máy, chữ, mực, giấy và 4 công nhân Pháp. ấn phẩm đầu tiên là Bulletin officiel de l'Expédition de Cochinchine, 1861. (Công báo của quân viễn chinh Pháp ở Nam Kỳ). Xưởng này cũng in công văn, giấy tờ quản lý, sách mỏng.v...v.. phục vụ chính sách xâm lược của chúng.

Tiếp đó, các nhà in của chính quyền thực dân và tư bản Pháp lần lượt ra đời như: Imprimerie Impériale, Imprimerie du gouvernement, Imprimerie Guillaud et Martinon, Imprimerie Rey et Curiol.v.v.. Bên đạo Thiên chúa có nhà in xưa n hất l à Imprimerie de la Mission (Nhà in Nhà chung) hoạt động từ 1865 đến 1943. Tờ báo đầu tiên bằng chữ quốc ngữ được in tại Sài Gòn năm 1865 là Gia Định Báo, mỗi tháng ra 1-2 số. Những năm cuối thế kỷ XIX, nhiều sách dịch từ Hán-Nôm, Pháp văn ra quốc ngữ hoặc sáng tác bằng quốc ngữ được in ở Sài Gòn. Có thể kể một số cuốn như: Đại Nam quốc sử diễn ca (1875), Đại học Trung Dung (1881), Lục Vân Tiên truyện (1889), Kim Vân Kiều truyện (1889)k, Truyện Phan-Sa diễn ra quốc ngữ (Fables de la Fontaine ) (1886), các sách của Trương Vĩnh Ký: Chuyện đời xưa (1866), Truyện Khôi hài (1882), Gia huấn ca (1883).., của Huỳnh Tịnh Của: Phép toán (Arithmétique) (1867), Gia Lễ (1886), Đai Nam quấc âm tự vị (1895-1896), Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn (1896) v.v..

Những thập niên đầu thế kỷ XX, chữ quốc ngữ phổ biến mạnh hơn trước, công việc dịch thuật, sáng tác văn học nhiều thể loại rất phong phú đã kích thích mở rộng thị trường sách báo quốc ngữ, đòi hỏi một sự phát triển đột biến của ngành in, nhất là sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Cùng với tư bản Pháp, nhiều nhà tư sản Việt, Hoa ở Sài Gòn đã sớm chen chân kinh doanh trên lĩnh vực này như: Phát Toán (1909) J.Việt (1917), J. Nguyễn Văn Viết et fils (1922), á Đông-Chợ Lớn (1923), Quan Đồng Âm-Chợ Lớn (1923), Nguyễn Văn Của (1923), Xưa nay (1926), Bảo tồn (1927) v.v..

Nếu trong hai thập niên đầu thế kỷ chỉ có khoảng 20 nhà in đăng ký hành nghề thì hai thập niên kế đó (1920-1940), con số này tăng gấp 4 lần, lên tới gần 80 cơ sở, tuy rằng nhiều nhà in chỉ sống một vài năm rồi đóng cửa hoặc sáp nhập vào các cơ sở khác. Theo tư liệu lưu trữ, đầu năm 1937, toàn Đông Dương có 88 nhà in đang hoạt động in được sách báo. Riêng Sài Gòn đã có 28 nhà in đó, có tới 18 cơ sở mang tên Việt, Hoa (chiếm trên 60%), tuy năng lực và kỹ thuật in kém nhiều so với các nhà in của tư bản ngoại quốc.

Vì là kỹ thuật in mới du nhập nên lúc đầu, công nhân Pháp phải sang thao tác về sau họ tuyển mộ và đào tạo công nhân người bản xứ vì mức lương rẻ mạt so với công nhân chính quốc.

Ra đời thuộc loại sớm của công nhân Việt Nam, do yêu cầu nghề nghiệp, công nhân ngành in có một số đặc điểm riêng như: phải biết 3 thứ chữ: quốcngữ, Pháp ngữ và có vốn Hán-Nôm, tiếp xúc thường xuyên với sách vở, với giới cầm bút nên có trình độ hiểu biết nhất định, có tư thế chững chạc của những người có "chữ nghĩa". Anh em thợ sắp chữ gọi nghề in bị bạc đãi là "nghề nhặt cứt chuột" dù rằng nhìn bề ngoài ăn mặc giống thầy thông, thầy phán:

"Trông xa tưởng là những ôngphán,
Đến gần: ra một toán thợ in!.."

Dưới ách thống trị của thực dân, lại bị tư sản áp bức bóc lột nặng nề, công nhân in Sài Gòn đã sớm giác ngộ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, tích cực tham gia phong trào cách mạng từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo. Chỉ xin ghi lại một số cuộc đấu tranh tiêu biểu:

Ngày 21.10.1930, công nhận nhà in Joseph Nguyễn Văn Viết đình công. Các báo Đuốc nhà Nam ở Sài Gòn và Đông Pháp ở Hà Nội đều đăng tin và bình luận. Lý do: một thợ máy bị chủ cúp lương 1 piastre (đồng bạc Đông Dương) vì tội đánh và bôi mực lên mặt con khỉ hung tợn của chủ nuôi để gác cửa sau nhà in. Thợ đồng lòng đình công cả chục ngày đòi chủ phải trả lại tiền cúp phạt và trả cả lương cho những ngày thợ đình công.

Những tháng cuối năm 1932, công nhân nhà in Moderne do Testelin làm chủ đã tổ chức nhiều cuộc đấu tranh bảo vệ quyền lợi. Vì nhà in này in báo Công luận-Opinion nên được báo đưa tin và biểu đồng tình. Trong bức thư ngỏ của công nhân nhà in đăng trên báo Công luận ngày 21.10.1932 đã nêu rõ những thủ đoạn của chủ Testelin. Từ tháng 5.1931, viện lý do khủng hoảng kinh tế nên chủ bớt mỗi ngày 1 giờ công (tức là làm 7giờ/ngày) song lương thì chỉ cho mượn lúc 5 cắc, lúc đôi ba đồng, không thanh toán lương nhiều tháng liền. Cuối năm 1931, chủ lại quy định chỉ trả lương cho công nhân bằng 20% số tiền lời của chủ hàng tháng, tính ra chỉ bằng một nửa mức lương trước. Đã vậy tình trạng nợ lương cứ kéo dài, rồi lại hạ tỉ lệ xuống còn 15%, chưa kể việc gian lận trong việc công bố số tiền lời của chủ để cắt bớt lương nữa của công dân khi đình công là đòi chủ trả đủ 20% theo quy định, trả các tháng nợ lương, còn không thì nghỉ việc hết. Cuộc đấu tranh đó đã giành được thắng lợi, gây được tiếng vang trong công dân thành phố.

Tháng 6.1933, 21 công nhân nhà in Aspar đình công chống chủ đã bắt phạt công nhân hết sức vô lý. Theo các báo ra ngày 9.6.1933 thì khi chủ giao hàng bị thiếu 5 cuốn vé xe hơi, lại bắt phạt công nhân 100 đồng bạc. Thợ rủ nhau bỏ việc và đưa ra tòa kiện lại chủ. Sau đó chủ yêu cầu trừ lương mỗi người 5 đồng nhưng thợ không chịu, thà đi kéo xe kiếm ăn còn hơn chịu ức hiếp.

Cuối tháng 9.1933 thợ nhà in C.Ardin đình công chống chủ giảm lương. Báo chí Sài Gòn ra ngày 30.9.1933 cho biết: trước đó chủ đã bớt 40% lương, sau đó bớt thêm 15%, nay lại bớt 10% nữa. thợ không thể sống nổi nên mới đìnhcông. Chủ đối phó bằng cách niêm yết tuyển thợ mới nhưng không ai vô làm, cuối cùng chủ phải nhượng bộ.

Trong thời kỳ Đảng lãnh đạo đấu tranh công khai ở Sài Gòn, công nhân nhà in đã tích cực còn cử người hoạt động trong các tổ chức của giới lao động.

Tháng 4.1933, trong "Sổ lao động" do đồng chí Nguyễn Văn Tạo đứng đầu, ra tranh cử Hội đồng Thành phố Sài Gòn, có một đại biểu công ngành in là Nguyễn Xuân Vinh. "Sổ lao động" này đã trúng cử với số phiếu rất cao so với 2 sổ khác của phái Lập Hiến và phe ủng hộ thực dân.

Năm 1936, nhân thắng lợi của Mặt trận Bình Dân Pháp, các "ủy ban hành động" của phong trào Đông Dương Đại hội được tổ chức khắp nơi. Thống đốc Nam Kỳ cho phép các nhà in lập hội tương tế mang tên "Association mutuelle des employés in digènes des imprimeries de Cochinchine" (Nam Kỳ ấn công tương tế hội). Nhưng Ban trị sự hội này gồm những cai, sếp thân cận với chủ nên không có ảnh hưởng tích cực thúc đẩy phong trào công nhân in Sài Gòn. Vì vậy, một "ủy ban hành động thợ nhà in" ra đời đăng hiệu triệu trên báo chí Sài Gòn ngày 27.8.1936 kêu gọi sự đồng tâm hiệp lực để tham gia các chương trình hành động đòi các quyền tự do dân chủ. ủy ban này đóng trụ sở ở nhà số 25, đường Verdun (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám), gồm 7 người: Trần Văn Nhựt, Võ Văn Trọng, Phùng Thanh Vân, Hồ Văn Diệm, Võ Đảo Tiên, Hồ Tấn Huê và Lê Văn Nhan. Anh chị em các nhà in đã hoạt động rất tích cực trong việc in ấn các sách báo, truyền đơn cổ động cho Đông Dương Đại hội.

Cuối năm 1936, để tiến hành đợt đấu tranh nhân dịp đón Justin Godard (Thượng nghị sĩ Pháp) và Toàn quyền Đông Dương J.Brévié đến Sài Gòn, cần phải in rất nhiều bản kiến nghị và truyền đơn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các ủy ban hành động vận động công nhân và cả chủ nhà in tham gia in ấn tài liệu. Nhiều chủ nhà in đã in thuê truyền đơn cho các ủy ban hành động và bị bọn mật thám mời lên bót Catinat tra hỏi và đe dọa. Như trường hợp ông Khương Kim Nhuận, chủ nhà in Cao Bình nhận với đồng chí Nguyễn Văn Trấn, in 40.000 truyền đơn 8 trang để phục vụ đấu tranh tháng 1.1937. In xong, ông cho xe traction chở truyền đơn về Chợ Đệm bàn giao an toàn. Sau đó bót Catinat mời ông Nhuận lên tra hỏi. Nhờ đã chuẩn bị đối phó trước bằng cách ghi giá in gấp đôi bình thường trong phắc-tuya (hóa đơn) nên ông Nhuận trả lời: Không làm chính trị mà vì giá mắc gấp đôi, lại thu tiền trước nên in để kiếm lời.

Trong đấu tranh công khai, Ban công đoàn của Thành ủy Sài Gòn chủ trương vận động tổ chức các nghiệp đoàn. Tháng 6.1937, ủy ban sáng xuất nghiệp đoàn được thành lập ở Sài Gòn, đặt trụ sở tại nhà số 36, đường Alsace Lorraine (nay là Phó Đức Chính). ủy ban đã tổ chức in nhiều truyền đơn bằng giấy màu và nhờ các báo đăng lời hiệu triệu tập hợp công nhân đấu tranh cho quyền lợi chính đáng của mình. Trong ủy ban gồm 15 người, có một đại biểu ngành in là đồng chí Nguyễn Văn Gia, công nhân sắp chữ ở nhà in Portail. Đồng chí đã tích cực hoạt động tổ chức các hội ái hữu ngành in của Sài Gòn và tham gia các cuộc đấu tranh nghiệp đoàn của Thành phố.

Cùng với việc tận dụng các nhà in hợp pháp để in ấn sách báo công khai, các tổ chức cách mạng tiền thân của Đảng cũng như sau khi Đảng ra đời đã lập các cơ sở in bí mật, tùy điều kiện mà sử dụng mọi phương pháp in từ thô sơ đến tiên tiến để in tài liệu bí mật nội bộ.

Tin tức báo chi công khai ở Sài Gòn cho biết từ 1926 đến 1928, bọn mật thám đã phát hiện nhiều tờ báo-in bí mật như Công, Nông, Binh, báo Bônsơvích.v.v.. Cuối năm 1928, mật thám Sài Gòn đã lục soát bắt được một tổ chức in ấn của Tân Việt cách mạng đảng ở đường Barbier (nay là Thạch Thị Thanh). Địch đã bắt các đồng chí Nguyễn Duy Trinh và Đào Xuân Mai, tịch thu tất cả phương tiện in và tài liệu ấn phẩm.

Tại Viện Bảo tàng cách mạng Việt Nam hiện nay có lưu trữ hai bản gốc in "Luân cương chính trị" năm 1930 của Đảng Cộng Sản Đông Dương trong đó có một bản gốc do Liên Xô chụp, in bằng "xu xoa" (thạch), chữ tím, năm 1930. Bản này có thể là in tại cơ quan in bí mật ở Sài Gòn vì lúc đó Trung ương Đảng đóng tại Sài Gòn.

"In xu xoa" (thạch) bằng cách nấu rau câu đổ ra khay cho nguội đông lại, tạo mặt phẳng bằng một tấm kiếng. Tài liệu được viết bằng mực tím đặt trên giấy xong đặt lên mặt thạch cho ngấm chữ xuống đó rồi gỡ giấy đi, ta có một khuôn in để đặt giấy in xuống vuốt cho thấm chữ.

"In giấy sáp" (in stencil) thì phải dùng bút sắt mũi nhọn viết trên tờ giấy sáp cho thủng theo chữ viết rồi đặt lên mặt bàn lăn, để giấy trắng dưới giấy sáp rồi lăn mực mặt trên cho thấm chữ xuống giấy in. Đây là cách in stencil đơn giản nhất, có thể in hàng trăm bản.

Các báo Cờ Đỏ, Cờ Vô Sản, tạp chí Cộng Sản và Cộng sản tùng thơ .v.v.. thời ấy được in bằng những cách thủ công đó.

Vào năm 1935, Đảng Cộng sản Pháp có gửi cho Xứ ủy Nam Kỳ một máy in quay tại loại nhỏ, tên là Rotative Gestner, cũng dùng giấy sáp, mỗi vòng quay được một trang. Nhược điểm của máy là hơi to, khó di chuyển và khi quay thì kêu lạch cạch, khó giữ bí mật.

Đến năm 1944, Xứ ủy có một bộ phận in typô, sắp cữ, máy đạp: Phương tiện in và thợ được đưa từ nhà in Nguyễn Phú Hữu-Sài Gòn chuyển ra đặt bí mật ở quận Thủ Thừa (nay thuộc Long An) để in báo Tiền Phong.

Bộ phận Việt Minh (thường gọi là Việt Minh cũ của các đồng chí Trần Văn Trà, Hoàng Dư Khương đặt nhà in bí mật ở Đakao, in báo Giải phóng)

Sau đảo chính của Nhật (9.3.1945), đồng chí Trần Văn Giàu đã chuyển cho nhóm sinh viên Huỳnh Văn Tiểng cái máy in bằng giấy sáp quay tay nói trên để in hàng ngàn Bản tin Việt Minh phát hành bí mật ở Sài Gòn, đưa tin chiến thắng phát xít Đức của Liên Xô và Đồng Minh. Máy in được đặt dưới hầm bí mật tại nhà của một nhân sĩ yêu nước là ông Trần Văn Nguyên, số 90 đường Richaud (nay là Nguyễn Đình Chiểu).

Các cơ sở cách mạng hoạt động tốt trong các nhà in Portail, Ardin, Nguyễn Văn Của, Nguyễn Phú Hữu, Nhành Mai, Bảo tồn, SAPI, Thạch Mậu.v..v..Khi phong trào Thanh niên Tiền phong ra đời, tờ Tiến đặt nhà in và tòa soạn báo ở 14 Charner (naylà Nguyễn Huệ). Sau tổng khởi nghĩa Tháng tám 1945, một số cơ sở in mới được cấp tốc xây dựng cùng với các cơ sở cũ đã tích cực in sách báo, tài liệu phục vụ việc xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng.

Khi Nam Bộ kháng chiến (23.9.1945), nhiều nhà in ở Sài Gòn được di chuyển về các tỉnh để tiếp tục nhiệm vụ chống thực dân Pháp xâm lược.
 
cucarot
II. Hoạt động của ngành in Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)

Trong kháng chiến, ngành in được giao nhiệm vụ rất quan trọng là phải in ấn nhanh chóng, đầy đủ, kịp thời sách báo, tài liệu tuyên truyền, huấn luyện phục vụ đắc lực cho mặt trận tư tưởng, văn hóa. Dù hoạt động công khai hay bí mật, ngành in kháng chiến luôn luôn bị kẻ thù tìm mọi cách phá hoại, tiêu diệt.

Dưới đây, chỉ xin nêu sơ lược một số hoạt động của ngành in trên địa bàn kháng chiến Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định.

Trong hoàn cảnh kháng chiến, các cơ quan tuyên huấn, thông tin, báo chí, xuất bản.. thường tổ chức nhà in riêng hoặc gắn bó chặt chẽ về mặt tổ chức hoạt động với nhà in.

1. Nhà in báo "Cảm tử"

Nửa tháng sau khi Sài Gòn chính thức nổ súng kháng chiến, ngày 9.10.1945, tờ báo Công đoàn, cơ quan của Tổng công đoàn Nam Bộ ra đời. Báo do đồng chí Nguyễn Lưu làm chủ nhiệm, các đồng chí Nguyễn Văn Đắc, thợ in Portail và Lê Đình Thụ (Vũ Hồng) lo việc in báo. Nhà in đặt tại bìa rừng cao su Thủ Đức, Báo in mỗi kỳ 5000 tờ, 3 ngày ra một kỳ, được chở từ Thủ Đức vào Sài Gòn, Gia Định qua đường Gò Vấp bằng xe của hãng Trịnh Hưng Ngẫu, phân phát cho cả nội thành và ngoại ô.

Sau khi ra được 5 số, tờ báo đổi tên là Cảm tử và chuyển nơi in về An Phú Đông (nay thuộc quận 12) do đồng chí Lý Chính Thắng làm chủ nhiệm. Tin tức kháng chiến đối với nhân dân lúc đó rất cần htiết và quý báu nên dù giá báo ghi là 5 hào nhưng có bạn đọc trả 5 đồng, có người tặng luôn 20 đồng. Báo được phát hành bí mật vào nội thành, nhiều khi kẹp vào bên trong tờ Phục Hưng-một tờ báo phản động lúc đó để che mắt địch. Nhiều chiến sĩ phát hành báo bị địch bắt, bắn giết, tra tấn đến tàn phế và tù đày.

Tháng 12.1945, nhà in bị địch tấn công đập phá chỉ còn hơn 30 kg chữ giấu ở vườn mía. Các đồng chí Lê Sĩ, Trần Độ, Xường, Lê Văn .v.v.. sửa lại máy, dời chỗ và mấy hôm sau lại tiếp tục in 4000 tờ/kỳ như cũ. Giặc Pháp tiếp tục càn quét, có ngày 2-3 lần và treo giải thưởng 50.000 đồng Đông Dương cho bọn lính và tay sai nếu tìm được tòa soạn và nhà in.

Có lần dời không kịp, nhà in bị địch phát hiện, đập phá tan tành, đốt cả nhà và máy, rồi chúng tuyên bố đã quét sạch báo Việt Minh. Nhưng chỉ ít ngày sau, với mấy chục kg chữ còn giấu được, anh em lại tiếp tục in báo bằng cách đơn giản: sắp chữ, đóng khuôn rồi dùng bàn chải vỗ in lên giấy không cần máy, mỗi kỳ ra được 2000 tờ. Báo Cảm tử vẫn tiếp tục ra mắt bạn đọc, gửi cả cho các bộ trưởng thứ trưởng bù nhìn nữa.

Ngày 30.9.1946, đồng chí Lý Chính Thắng bị thương nặng và bị bắt trong một trận càn quét của địch rồi mất tại nhà thương Chợ Rẫy. Đồng chí Nguyễn Lưu lại dời địa điểm làm báo về ấp 10, xã Vĩnh Lộc (Tân Bình) cách nơi đóng quân của địch ở Bà Hom khoảng 1 km. Đồng chí Phạm Văn Tời (Mười Tời) đã cải tiến cách in, thay vỗ bàn chải bằng lăn rulô trên giấy và khuôn chữ, làm cho báo đẹp hơn nhưng chữ mau mòn hơn. Đồng chí Lê Văn Tước, thợ máy, được giao nhiệm vụ lập cơ sở đúc chữ lấy tên là Nguyễn Văn Tư, đặt ở kinh Bà Vụ (rừng tràm, Vườn Thơm-Lý Văn Mạnh). Có chữ mới, báo in càng đẹp. Chữ đúc còn cung cấp cho một số cơ quan ấn loát khác.

Tuy bị khủng bố nhiều lần nhưng nhà in vẫn tồn tại, về sau vẫn in typô bằng cách lăn trục máy in thử (presse à épreuve). Đến những năm 50, báo ghi là Nội san của Liên hiệp Công đoàn Gia Định, ra 8 trang, khổ 25 x 32 cm, do đồng chí Văn Chiêu làm chủ bút kiêm chủ nhiệm.

2. Nhà in báo Chống xâm lăng

Báo Chống xâm lăng do Thành ủy Sài Gòn-Chợ Lớn xuất bản. Tờ báo và nhà in do đồng chí Trịnh Đình Trọng phụ trách. Báo in bằng giấy sáp lúc đầu đóng ở quận 8, sau dời về Láng Le. Nhà in chỉ có 6 người: 2 viết giấy sáp, 2 in và 2 liên lạc. Số đầu tiên ra ngày 1.1.1946 gồm bài của các đồng chí Trịnh Đình Trọng, Nguyễn Mạnh Hoan, Liễu Châun Bạch Đằng. Sau khi đồng chí Trọng được điều về Sở Thông tin Nam Bộ, đồng chí Nguyễn Văn Định (Bảy Định) được cử phụ trách, nhà in dời vô Láng Le.

Năm 1946, Thành ủy giao cho đồng chí Cao Hồng Quý chạy lo lập nhà in typô. Nhờ đồng chí có giấy tờ hợp pháp nên lo mua được máy in, chữ chì, giấy mực đưa về căn cứ và số báo Chống xâm lăng in chữ chì đầu tiên là số kỷ niệm 2 năm Cách mạng Tháng Tám (19.8.1947) bìa in 2 màu vẽ một chiến sĩ ôm súng xung phong. Trong ban biên tập số báo này có các đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), Bảy Định.. Nhà in báo Chống xăm lăng còn in tờ Bạn Gái cho Hội Phụ nữ Thành phố và một vài tờ báo khác nữa.

Năm 1949, Pháp càn quét lớn vào khu vực đóng nhà in ở Láng Le nên Thành ủy chủ trương chuyển địa điểm về nội thành. Đồng chí Quý phụ trách bố trí nhà in ở Cây Mai-Chợ Lớn chuyên in tài liệu của Đảng, đến đầu năm 1950 thì bị lộ. Đồng chí Quý chạy thoát rồi lại bị địch bắt khi khẩn trương lo lập nhà in mới.

Một cơ sở in khác của Thành ủy do các đồng chí Xuân, Lăng phụ trách lúc đầu trở về Sài Gòn vẫn in bằng giấy sáp tờ báo Liên Việt, sau đổi là Tổ quốc trên hết do đồng chí Nguyễn Thọ Chân phụ trách. Nhờ sự giúp đỡ của mấy anh em bồi bếp cho quan năm Pháp nên bộ phận in đặt tại một gác lửng trên ga-ra ô tô trong biệt thự của viên sĩ quan này ở đường Testard (nay là Võ Văn Tần). Sáng sớm, thợ in ta đến leo lên gác làm việc đến tối mịt mới về. Cơm nước do anh em bồi bếp giúp đỡ. Về sau, bộ phận in này trang bị bằng chữ chì đặt tại một nhà ở Vườn Lai. Ban biên tập báo gồm các đồng chí Bảy Định và Nam Quốc Cang. Báo in đẹp, ra 4 trang. Sau khi in được 10 số Tổ quốc trên hết và 4 số Pour la Paix (của Đảng Xã hội) thì bị địch bắt. Do khi đào hầm đem đất đi đổ bị lộ nên một người ở nhà đối diện biết, khi bị bắt khai ra và địch khủng bố.

3. Nhà in báo Tiến lên

Thuộc Ty thông tin Sài Gòn-Chợ Lớn đầu kháng chiến (họa sĩ Hồ Văn Lái làm trưởng ty) do các đồng chí Hồng Diệu, Văn Lang phụ trách, đóng tại rừng tràm Hội đồng (Sầm Tân Bửu) in tờ Tiến lên.

4. Nhà in của Ban Tuyên truyền nội thành Sài Gòn

Cuối năm 1945, đồng chí Huỳnh Tấn Phát trong Ban Tuyên truyền nội thành được giao nhiệm vụ mua lại nhà in của giáo sư Nguyễn Duy Cần rồi cho tháo dỡ chở ra một ngôi chùa ở vùng Tân Hóa (Cầu Tre-Phú Lâm), còn máy pê-đan thì chuyển cho nhà in báo Kèn gọi lính ở Chợ Đệm cho đồng chí Trần Bửu Kiếm phụ trách (cơ sở này đã in báo Tiền Phong trước Cách mạng Tháng Tám).

Sau Hiệp định sơ bộ 6.3.1946, nhà in lại trở về nội thành, ở đường Lagrandière (nay là Lý Tự Trọng), sau đó chuyển về đường Boudonnet (nay là Lê Lai) để in truyền đơn bằng chữ chì. Tháng 5.1946, do chủ nhà mua đồ đạc của lính Pháp, bị chúng xét nhà phát hiện ta đang in cờ đỏ sao vàng và nhiều tài liệu khác. Thế là chúng bắt hết nhóm này trong đó có đồng chí Huỳnh Tấn Phát.

5. Nhà in của tỉnh Gia Định

Nhà in do đồng chí Lữ Văn Tám (Tám Gân) phụ trách thuộc Quận bộ Việt Minh Gò Vấp. Đồng chí Tám Gân là thợ sắp chữ, từng làm việc ở các nhà in báo Opinion, La Presse, Le soir d'Asie, Dân báo, Tín Đức thư xã. Đồng chí đã tạo lập được cơ sở in typô với một số chữ chì có sẵn của Quận bộ Việt Minh. Nhà in này về sau trở thành nhà in của Mặt trận Việt Minh tỉnh Gia Định. Năm 1952, đã in tờ báo Cứu Quốc của tỉnh cho đến Hiệp định Genève 1954. Sau đó, các phương tiện in được cất giấu còn cán bộ công nhân viên thì đi tập kết, một số chuyển về địa phương sống hợp pháp trong đó có đồng chí Tám Gân.

6. Nhà in Lê Hồng Phong

Nhà in của Tỉnh bộ Việt Minh Gia Định, lúc đầu đóng ở xã Tân Mỹ (nay là Bình Mỹ-Củ Chi) do đồng chí Quân, thợ sắp chữ của nhà in báo Điện tín Sài Gòn cùng 2 thanh niên mới vào nghề lo việc in ấn. Giữa năm 1947, nhà in này sáp nhập với nhà in của quận Gò Vấp do đồng chí Tám Gân phụ trách, lấy tên là nhà in Lê Hồng Phong, in báo Toàn dân kháng chiến, cơ quan của Liên Việt tỉnh Gia Định. Báo ra 4 trang, mỗi tháng 3 kỳ, khổ nhỏ.

Mùa mưa 1947, sau khi báo ra được 4 số thì nước sông lên cao ngập vào nhà in, phải dời lên An Nhơn Tây-Hóc Môn. Dù có khó khăn, nhà in vẫn in xong số báo đặt biệt 8 trang kỷ niệm ngày sinh của Bác Hồ (19.5.1947). Sau đó, nhà in lại dời đến xóm Trại gần Ban Quân Giới của Trung đoàn 312 và tiếp tục hoạt động.

7. Nhà in Hà Huy Tập

Cuối năm 1948, Mặt trận Liên Việt tỉnh Gia Định xây dựng thêm một nhà in nữa để in sách được đặt tên là nhà in Hà Huy Tập. Nhà in gồm 13 người trong đó có 4 đảng viên và 2 đoàn viên, do đồng chí Tám Gân kiêm phụ trách. Ban Tuyên truyền Hóc Môn cung cấp cho nhà in một số chữ chì để typô. Hai cuốn sách đẹp được in thời gian đầu là Nước Nga sau Cách mạng và Sửa đổi lề lối làm việc của X.Y.Z, (bút danh của Bác Hồ) được Mặt trận Tỉnh khen.

Năm 1951, khi nhà in đặt ở Xóm Trại thì giặc đến đóng bốt ở xã An Nhơn Tây (Hóc Môn) cách nhà in 2 km nên phải dời sang xã Thanh Tuyền (Bến Cát-Thủ Dầu Một), cuối cùng chuyển về vùng núi Bà Đen. ở đây, nhà in phải vừa in ấn sách báo tài liệu, vừa làm nương rẫy tự tục lương thực và vượt khó khăn do cơn bão lụt tàn phá năm 1952 cho đến Hiệp định Genève 1954.

Trên mặt trận đấu tranh công khai ở nội thành Sài Gòn, các tiểu ban lãnh đạo chuyên trách của Ban Tuyên huấn Thành ủy như: báo chí, văn hóa, văn nghệ v.v.. đều có những cơ sở in bí mật bằng phương pháp thủ công: in xu-xoa (in thạch), in litô, in giấy sáp hoặc lợi dụng khả năng công khai hợp pháp để in typô. Các đồng chí Huỳnh Tấn Phát, Vũ Tùng, Mai Văn Bộ, Nguyễn Văn Hiếu .v.v.. trực tiếp chỉ đạo các mặt hoạt động công khai và chăm sóc các bộ phận in ấn.

Cuộc đấu tranh của các nhà in nổ ra vào ngày 23.8.1946, khi báo Justice (Công lý) cơ quan ngôn luận của Chi bộ Nam Kỳ của Đảng Xã hội Pháp (SFIO) lên tiếng kêu gọi thầy thợ lập nghiệp đoàn để có sức mạnh đoàn kết đấu tranh. Báo còn đăng tin tức của Đài Tiếng nói Việt Nam làm cho kẻ địch tức giận nên đã cho lưu manh đến đập phá nhà in Bảo tồn-nơi in báo. Về sau, nhà báo phải mua máy lập nhà in riêng. Tiếp đó, ngày 27.12.1946, các nhà in riêng của các báo Nam Kỳ, Trung lập, nhà in SAPI đều bị chính quyền bù nhìn lục soát mà không nói rõ lý do. Lúc đó, địch còn ra lệnh đình bản 12 tờ báo ở Sài Gòn, làm cho hơn tám chục nhân viên báo và hơn một trăm công nhân in phải đi lang thang kiếm việc.

Tháng 4.1947, sau khi đoàn xe của chính phủ Lê Văn Hoạch bị phục kích ở Giồng Dứa, chính quyền bù nhìn đóng cửa 17 tờ báo đấu tranh cho thống nhất nước nhà với lý do có đăng tin kháng chiến. Tháng 11.1947, chúng lại ra lệnh cấm 13 tờ báo nữa vì đã".. thi hành mạng lịnh của ủy ban tuyên truyền của Cộng sản..". Báo chí bị đình bản cũng là tai họa cho công nhân in. Do đó cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hóa đã tập hợp được lực lượng của giới báo chí, xuất bản và công nhân in đòi phải có giấy, đấu tranh để tiếp tục ra báo.v.v..

Công nhân in Sài Gòn đã tham gia kháng chiến bằng nhiều hoạt động khác như: tổ chức in truyền đơn trên các tờ giấy bạc 5 cắc (5 hào) đem rải trên đường, đồng bào lượm công khai mà không sợ địch làm khó dễ; tổ chức in bí mật một số tập thơ kháng chiến như tập Lửa binh của Xuân Miễn sáng tác ở An Phú Đông trong đó có bài An Phú Đông nổi tiếng lưu hành bí mật chuyển vào khu căn cứ cho đồng nghiệp in báo kháng chiến rồi nhận báo về phân phát tận cơ sở..

Công nhân in đã hăng hái tham gia các cuộc đấu tranh công khai đòi dân sinh dân chủ, các ngày lễ quốc tế lao động 1.5, đặc biệt là lễ tang trọng thể nhà báo Nam Quốc Cang bị địch sát hại ngày 6.5.1950. Hầu hết công nhân nhà in nội thành đã cùng hàng vạn đồng bào biến đám tang thành một cuộc biểu dương ý chí căm thù quân cướp nước và bán nước, thương tiếc vô hạn một ký giả đã dũng cảm dùng ngòi bút của mình để đấu tranh cho lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.

Có thể nói trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, ngành in Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định dù hoạt động công khai hay bí mật, ở khu căn cứ hay nội thành đã góp phần xứng đáng vào thành quả của cuộc kháng chiến trên mặt trận văn hóa, tư tưởng.
 
cucarot
III. Hoạt động của ngành in Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định trong chống Mỹ cứu nước (1954-1975)

Sau Hiệp định Genève 1954, phong trào cách mạng ở miền Nam chuyển sang giai đoạn mới: đấu tranh đòi thực hiện Tổng tuyển cử để hòa bình thống nhất nước nhà. Mặt trận tư tưởng văn hóa có vị trí thật quan trọng trong cuộc vận động đấu tranh chính trị, nhất là đối với thành phố Sài Gòn-sào huyệt của kẻ thù.

Công nhân ngành in nội thành trong giai đoạn mới vẫn tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, sát cánh với văn nhân, ký giả và các nghiệp đoàn khác trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân Thành phố, nhất là các đợt "xuống đường" biểu thị sức mạnh đoàn kết chống đế quốc và tay sai. Báo Tiếng chuông ra ngày 3.5.1962 đã đăng ảnh đoàn công nhân in với biểu ngữ đứng ở hàng đầu trong cuộc biểu tình nhân ngày quốc tế lao động. Trên mặt trận báo chí công khai, khi cần đưa tin nhanh, anh em công nhân các nhà in đã làm việc quên nghỉ để kịp thời có sách báo tiếp sức cho các cuộc đấu tranh. Đặt biệt, công nhân ngành in Sài Gòn đã sôi nổi tham gia các cuộc đấu tranh của ký giả Sài Gòn chống "sắc luật 007 của chính quyền Thiệu bóp cổ báo chí", tiêu biểu là cuộc tuần hành "Ngày ký giả đi ăn mày" (10.10.1974). Sắc luật này của Thiệu đã làm cho 70% nhà báo thất nghiệp và ảnh hưởng trực tiếp đến công ăn việc làm của công nhân in. Vì vậy anh em cùng xuống đường với ký giả văn nhân, tay gậy, tay bị diễu hành từ Câu lạc bộ báo chí (15 Lê Lợi) đến công trường Quách Thị Trang vòng về trước trụ sở Hạ Viện (nay là nhà hát Thành phố), cuộc đấu tranh này đã có tiếng vang trên thế giới lúc đó.

Cùng với hoạt động đấu tranh công khai, nhiều tổ chức in ấn đã hoạt động bí mật trong nội thành, trực tiếp phục vụ cho yêu cầu của cuộc chống Mỹ cứu nước. Chỉ xin nêu một số tổ chức tiêu biểu:

Cuối năm 1954, theo kế hoạch được phân công, một số cán bộ nhà in Trần Phú của Xứ ủy Nam Bộ lúc đó đóng ở Cà Mau cùng cán bộ in của Sở Thông tin Nam Bộ về Sài Gòn bí mật phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị do các cấp ủy Đảng chỉ đạo.

Nhà in Nguyễn Trọng

Bộ phận thứ nhất về Sài Gòn do Ban Tuyên huấn Thành ủy chỉ đạo gồm các đồng chí Nguyễn Tấn Khởi (Tám Kiếng) phụ trách và các đồng chí Nguyễn Văn Nghệ (Ba Nghệ), Thạnh, Chi, Giáo, Nguyễn Văn Tư (Tư Cao), Huỳnh Văn Gừng (Năm Lăng), Trần Văn Ba (Ba Già), đầu năm 1955 hình thành 2 tổ in bằng giấy sáp. Đồng chí Tám Kiếng nhận tài liệu từ các đồng chí Sáu Kiếng (Văn Lang), Ba Giàu rồi đánh máy giấy sáp xong giáo các tổ in và phát hành luôn.

Tổ in stencil do đồng chí Ba Nghệ phụ trách đặt tại đường Trần Hưng Đạo hoạt động được một thời gian thì lần lượt bị địch bắt cầm tù. Riêng đồng chí Ba Nghệ bị chúng tra tấn rất dã man cho đến chết tại Cầu Kiệu vì định nhảy xuống sông khi bọn cảnh sát dẫn qua cầu.

Tổ in do đồng chí Tư Cao phụ trách đặt ở xóm Vạn Chài đường Trần Quang Khải tại một xưởng sắt của hai nhà thầu khoán là ông Khảo và ông Sắc. Riêng đồng chí Gừng (Năm Lăng) phụ trách một nhóm thợ làm ở nhà in Việt Nam của ông Quý (Phú Nhuận) có nhiệm vụ bí mật in truyền đơn bằng chữ chì.

Năm 1957, tổ in này dành dụm được tiền bạc và vay vốn, mượn giấy phép hợp pháp thành lập một nhà in công khai tại đường Châu Văn Tiếp (nay là Vũ Tùng) Bà Chiểu, lấy tên là nhà in Nguyễn Trọng do đồng chí Tư Cao làm chủ. Hoạt động công khai của nhà in này là nhận in mọi loại giấy tờ cho khách hàng kể cả của chính quyền Sài Gòn, còn bên trong thì in tài liệu, truyền đơn, giấy tờ mật cho ta, không in bằng giấy sáp nữa.

Năm 1960, một số đồng chí bị bắt, đồng chí Tư Cao giữ nhà in làm đầu mối liên lạc và chi viện phương tiện cho các nhà in vùng giải phóng. Tháng 8.1963, các đồng chí Tám Kiếng và Năm Lăng củng cố lại nhà in Nguyễn Trọng để in các ấn phẩm kỹ thuật gửi về chiến khu.

Năm 1964, địch lùng sục ráo riết, đồng chí Năm Lăng phụ trách xây dựng thêm một nhà in ngầm dưới mặt đất tại Hòa Hưng, bên trên nghi trang nhà ở, bán hàng, có hệ thống đèn báo động do mẹ đồng chí Năm Lăng cảnh giới. Năm 1965 bộ phận in ngầm này bị lộ, đồng chí Năm Lăng dời chỗ ở để đồng chí Linh đổi về nhưng sau đó đồng chí Linh cũng bị địch bắt. Như vậy từ năm 1966 đến 1969, nhà in Nguyễn Trọng còn hoạt động công khai và tổ chức in các báo Cờ Gứi phóng, Lao động, Tin tức, Truyền đơn, bích chương với số lượng lớn phục vụ đợt tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Các đồng chí Tư Cao và Năm Lăng còn nhận nhiệm vụ tổ chức thêm một nhà in công khai nữa ở đường Phát Diệm (nay là đường Trần Đình Xu), nhưng chỉ hoạt động được vài tháng thì hai đồng chí bị địch bắt tháng 11.1969.

Bộ phận in bí mật của Ban Tuyên huấn xứ ủy Nam Bộ

Bộ phận thứ hai của nhà in Trần Phú về hoạt động bí mật tại Sài Gòn tháng 10.1954 do Ban Tuyên huấn Xứ uỷ Nam Bộ chỉ đạo gồm các đồng chí Năm Kiêu, Năm Nam, Hai Thông, Tư Công Dân, có nhiệm vụ xây dựng một nhà in công khai để in tài liệu mật của Đảng. Nhờ khai thác một giấy phép cũ do chị Nguyễn Thúy Viên (còn gọi là chị Tư Nguyên) gia đình liệt sĩ ở Gò Đen (Bến Thủ-Long An) là chủ đứng tên nhà in ở đường Thuận Kiều. Anh em tìm mua được căn nhà số 207 đường Lý Thái Tổ, chuyển một số thiết bị in từ chiến khu về, cùng một số thiết bị khác mua cho nhà in Trần Phú chưa kịp chở đi thì đình chính. Nhà in lấy tên là Hoà Thành hoạt động chưa được bao lâu thì gặp rắc rối vì chưa có giấy phép chính thức. Cuối năm 1954, chị Tư cho đăng báo bán nhà in và chủ nhà in Việt Liên ở 193 Gia Long (nay là Lý Tự Trọng) đến mua và thu nhận luôn 4 công nhân của ta. Để tiếp tục làm nhiệm vụ, các đồng chí đã thuê một căn nhà dưới gầm cầu chữ Y (nay là Nguyễn Biểu), ngày đi làm ở Việt Liên, tối về bày biện ra in bằng giấy sáp, quẹt mực bằng quai quốc, xong cất giấu phương tiện vào hầm bí mật. Chính bộ phận in này đã in các tờ Tin tức của Ban Tuyên huấn Xứ ủy, báo Hòa bình Thống nhất, Bản án Ngô Đình Diệm và một số truyền đơn rồi tự đưa đi phát hành ở các đầu mối. Tiền mua giấy, mực in đều do nhóm trích trong tiền lương và quan hệ với nhà in Việt Liên để có vật tư.

Năm 1957, nhóm này ngưng hoạt động vì Xứ ủy chuyển địa điểm và đến tháng 4.1959, 4 đồng chí bị bắt trong đó có đồng chí Năm Kiêu và Năm Can, bị chúng kêu án 5 năm tù theo luật 10/59.

Nhà in báo Trí thức mới

ở nội thành Sài Gòn trong thời gian từ 1966 đến 1975 còn có cơ sở in ấn bí mật của Ban Trí vận thuộc Khu ủy Sài Gòn Gia Định, đó là nhà in báo Tri thức mới.

Báo Trí thức mới lúc đầu được in rônêô tại một tầng hầm ơ đường Cao Thắng (Bàn Cờ) do nữ đồng chí Sáu Mỹ phụ trách. Cơ sở này còn in các tờ Phụ nữ, Quyết thắng, Sài Gòn vùng lên và nhiều tài liệu, truyền đơn khác.

Một cơ sở in nữa Ban Trí vận, in chữ chì theo kiểu lăn tay (presse épreuve) được bố trí dưới hầm nối ngoằn ngoèo nằm lấn vào giữa mấy căn nhà ở số 159/5F đường Nguyễn Trãi (nay thuộc quận 5). Trong hầm có đèn và quạt chạy liên tục khi in. Các đồng chí Ba Minh (Nguyễn Văn Quới), nữ đồng chí út Huyền (Nguyễn Thị Ngọc Lành) về sau có đồng chí Sàu Mỹ tiếp sức và đồng chí Tư Phát, công nhân in typô ở Phnompênh về làm Bí thư chi bộ. Tờ trí thức mới từ số 5 in tại đây mỗi kỳ 500 tờ. Các tờ báo Trung lập, Sống chung của Việt kiều yêu nước, bản tin Sài Gòn vùng lên, Cờ giải phóng, một số tài liệu của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam cũng được in tại đây.

Từ năm 1968, các đồng chí hoạt động ở nhà in bí mật này lần lượt bị địch bắt bên ngoài nhà in, do đó cơ sở in vẫn được giữ nguyên vẹn đến sau ngày giải phóng dù đã phải di chuyển địa điểm vài nơi nữa. Sau giải phóng, nhà in này sáp nhập với nhà in Thời Triệu và nhà in của Sở đua ngựa thành Xí nghiệp in số 4 của Thành phố Hồ Chí Minh, nay ở 61 Phạm Ngọc Thạch, quận 3.

Nhà in của Ban Tuyên huấn khu Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định đã tổ chức một nhà in của Ban, lấy nhà in của Tỉnh ủy Gia Định làm nòng cốt do đồng chí Lữ Văn Tám (Tám Gân) phụ trách, đóng ở rừng Sến (Hố Bò) xã Phú Mỹ Hưng huyện Củ Chi. Nhà in được bổ sung người, trong đó có các đồng chí Tám Kiếng và Năm Lăng, cán bộ nhà in từ nội thành ra. Cơ sở in này có một máy in bằng gỗ (máy épreuve) độ 100 kg chữ chì và được tăng cường phương tiện nhờ sự chi viện của nhà in nội thành do đồng chí Tư Cao phụ trách.

Năm 1961, do yêu cầu phát triển của cuộc đấu tranh, Ban Tuyên huấn đặc khu Sài Gòn-Gia Định quyết định chia nhà in thành 2 bộ phận: bộ phận in phục vụ vùng nông thôn vẫn đóng ở rừng Sến và bộ phận in phục vụ đô thị do đồng chí Tám Kiếng phụ trách đóng ở vùng kinh Ba Reng huyện Đức Huệ-Long An. Bộ phận đô thị, do địch đánh phá ác liệt nên rút trở về Củ Chi phối hợp với bộ phận nông thôn. Sau khi phải di chuyển nhiều nơi, cuối cùng nhà in trụ lại ở rừng Lộc Thuận huyện Củ Chi. Nhà in được xây dựng trong một hầm ngầm lớn để làm việc, có gần 300 mét địa đạo cùng một hệ thống hầm ngủ, hầm để giấy, giếng nước v.v.. Trên mặt đất là rừng được nghi trang cẩn thận. Phương tiện in lần đầu tiên được dùng là máy pêđan và đèn măng sông làm việc ban đêm, nhờ đó tăng nhanh sản phẩm in phẩm in ấn. Những năm 1964-1968 nhà in hoạt động khá tốt, in các báo Giải phóng, tập san Trí thức mới, truyền đơn, biểu ngữ, khẩu hiệu cả các giấy tùy thân để vào hoạt động trong vùng địch.v..v.. Ngoài căn cứ chính ở Lộc Thuận (B1), còn tổ chức thêm hai bộ phận khác nữa: B2 ở rừng Cây Xộp và B3 ở Bàu Trâm (Bến Cát).

Sau đợt Tết Mậu Thân 1968, địch tập trung đánh phá vùng tam giác sắt, cán bộ công nhân viên nhà in đã chiến đấu anh dũng bảo vệ cơ sở, nhiều đồng chí hy sinh. Năm 1969, căn cứ in Lộc Thuận bị địch đánh phá hư hại phần lớn, địch thu toàn bộ máy móc. Các B2, B3 cũng khồng còn địa bàn hoạt động, phải chôn giấu máy, chữ, cử một số người bám trụ, còn lại tạm lánh qua biên giới. Nhà in Lộc Thuận-Bến Cát lúc đông nhất lên tới bảy mươi người, qua chiến đấu đã hy sinh trên ba mươi người (43%).

Năm 1972-1973 tình hình chiến trường đỡ căng thẳng, anh chị em nhà in tập hợp lại thành Ban ấn loát khu Sài Gòn-Gia Định do đồng chí Tám Kiếng làm trưởng ban, đồng chí Sáu Kiệm làm phó ban.

Năm 1973 ngoài bộ phận in đóng ở Rạch Kiến, Bến Cát, còn tổ chức thêm bộ phận in đóng gần chợ Thanh An. Nhà in được trang bị thêm máy Tứ Khai in 8 trang của Trung Quốc, nhanh chóng phục vụ kịp thời các tài liệu, bích chương, biểu ngữ, khẩu hiệu, thông cáo, hiệu triệu cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975.

Nhà in Phương Nam của bộ phận văn hóa Thành ủy, đăng ký công khai ở đường Lê Quang Định (Bà Chiểu) do đồng chí Nguyễn Sĩ Hồng và vợ là Phùng Thị Bút quản lý, ra đời năm 1967. Nhà in in một số tài liệu bí mật, nhưng chủ yếu in các báo tiến bộ như Hồn trẻ, Tin văn, tồn tại đến 30.4.1975.
 
cucarot
IV. Vài nét về ngành in ở thành phố Hồ Chí Minh sau ngày giải phóng

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc thắng lợi ngày 30.4.1975 cũng là ngày bộ phận lãnh đạo ngành in có mặt tại Sài Gòn để tiếp quản các cơ sở ấn loát. Bộ phận này gồm cáng chí Tám Kiếng, Phan Thanh Ngà (Mười Ngà), Tư Cao, Năm Lăng. Đồng chí Tám Kiếng đã chỉ đạo sử dụng các nhà in Hạnh phúc ở Gò Vấp, nhà in Tương lai (có máy in ốp-xét), nhà in Mỹ Hiệp để in hình Bác Hồ. Nhà in Hạnh phúc đã nhiệt tình đóng góp bằng cách mở kho giấy để in truyền đơn không tính tiền. Công nhân in các nơi phấn khởi làm việc cho cách mạng để đáp ứng yêu cầu của công tác tiếp quản lúc mới giải phóng.

Để in ấn kịp thời các tài liệu phục vụ cho chính quyền cách mạng, các cán bộ ngành in bám trụ tại nội thành đã đến mướn 3 nhà in lớn là: Tân Minh ấn quán ở đường Hồng Thập Tự (nay là đường Xô Viết Nghệ Tĩnh), Sài Gòn ấn quán ở đường Nguyễn Đình Chiểu và Viễn Đông ấn quán ở đường Cống Quỳnh. Ban Trí vận của thành phố cũng đã liên hệ với các đồng chí từng là cán bộ thành đang làm ngành in có thời kỳ bị đứt liên lạc, nay tổ chức in trên 2 triệu tấm ảnh màu chân dung Hồ Chủ tịch phát không cho đồng bào, đồng thời in cờ và các tài liệu của chính quyền cách mạng.

Theo chủ trương chung, ngành in đã tiếp quản ngay các sở sở in của chính quyền Sài Gòn, của bọn phản động và tư sản mại bản bỏ chạy ra nước ngoài. Công nhân viên các nhà in nói trên đã tích cực bảo vệ nhà máy và tận tình giúp đỡ các cán bộ tiếp quản.

Báo Sài Gòn giải phóng đã nhanh chóng in tại Tân Minh quán được tiếp quản, do đồng chí Tư Cao làm giám đốc và đồng chí Hải Vân làm Phó Giám đốc. Nhà in này sau đổi tên là nhà in Sài Gòn giải phóng.

Một số nhà in lớn khác như Sài Gòn ấn quán, Kim Sơn ấn quín, nhà in Thông tin Việt Mỹ, Viễn đông ấn quán, Quốc gia ấn quán, nhà in của quân đội Sài Gòn ở Tân Sơn Nhất. v.v.. cũng được tiếp quản và hoạt động để in gấp các loại sách báo, nhất là sách giáo khoa từ lớp 1 đến lớp 12 phổ thông cho năm học mới. Chỉ trong vòng 45 ngày, ta đã in xong 60 tựa sách của Nhà xuất bản Giáo dục với số lượng khoảng 7 triệu cuốn, đủ cho nhu cầu học. Tiếp đó, Sài Gòn ấn quán đã in nhanh, đẹp các văn kiện, tài liệu của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, báo ảnh nhiều màu gửi đi hơn 60 nước và sách của trên 20 nhà xuất bản Trung ương đã có mặt tại Thành phố.

Tiếp theo công tác tiếp quản là việc đăng ký các nhà in để phục vụ công việc quản lý nhà nước. Chỉ trong vài ngày, các hộ kinh doanh ngành in đã đến Phòng quản lý in đặt tại số 65, đường Phát Diệm (nay là Trần Đình Xu) do đồng chí Mười Ngà phụ trách để hoàn tất việc kê khai.

Theo số liệu đăng ký, toàn thành phố lúc đó có 932 chủ hộ in lớn, nhỏ. Về kỹ thuật thì đủ loại, in Typô, ốp-xét, ống đồng, in trên nilon, in trên thiếc, sắt tây, trên lưới, trên thủy tinh, đóng sách, đúc chữ, chế bản. Tổng số công nhân các nghề trong ngành in lên đến trên 1 vạn người trong đó khoảng một nửa là người Hoa. Nhiều người có tay nghề cao, thâm niên nghề nghiệp có người trên 40-50 năm. Máy móc thiết bị có trên 2000 loại, từ hiện đại đến may pê-đan nhỏ đủ cho một gia đình sinh sống trong xóm nghèo lao động.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ trong giai đoạn mới, ngành in Thành phố đã được sắp xếp lại, cải tạo và xây dựng mới, tổ chức thành các loại hình: xí nghiệp in quốc doanh, Công tư hợp doanh in và Xí nghiệp in tập thể. Từ năm 1985 do đặc điểm hoạt động của ngành in và tầm quan trọng của ngành trong đời sống tinh thần của nhân dân nên về cơ bản các loại hình xí nghiệp in đều được quốc doanh hóa. Có thể điểm qua một số nét về tổ chức, hoạt động của các loại hình xí nghiệp đó như sau:

1. Các xí nghiệp in quốc doanh

Công ty in Trần Phú

Nguyên là nhà in Trần Phú in chữ chì do Xứ ủy Nam Bộ thành lập ngày 27.7.1947 tại chiến khu Đồng Tháp Mười hoạt động trong kháng chiến chống Pháp. Sau Hiệp định Genève 1954, một bộ phận của nhà in về Sài Gòn hoạt động bí mật phục vụ cấp ủy rồi được Trung ương Cục miền Nam cho thành lập lại ngày 10.11.1963 tại căn cứ Bến Ra-Lò Gò (Tây Ninh).

Sau 30.4.1975, lực lượng nòng cốt của nhà in về Sài Gòn tiếp quản: Quốc gia ấn quán, nhà in Thông tin Việt Mỹ, nhà in Đông Nam á, Kim sơn ấn quán, Kim Lai ấn quán. Ngày 26.9.1975 Ban Tuyên huấn Trung ương Cục ra quyết định công nhận nhà máy in Trần Phú được thành lập trên cơ sở hợp nhất 5 cơ sở in nói trên với nhà in Trần Phú do đồng chí Nguyễn Thanh Liêm làm giám đốc. Ngày 24.12.1976, nhà máy in được bàn giao cho Bộ Văn hóa trực tiếp quản lý. Năm 1978, nhà máy in Trần Phú tiếp nhận thêm Sài Gòn ấn quán-một cơ sở in lớn, hiện đại của Sài Gòn cũ. Ngày 24.6.1995 được Bộ Văn hóa-Thông tin đổi tên thành công ty in Trần Phú.

Cho đến nay, nhà máy đã thông qua hợp tác quốc tế để hiện đại hóa, trở thành đơn vị hàng đầu ngành in. Nhờ trang bị máy tách màu điện tử, máy in 4 màu hiện đại v.v.. công ty đã nâng cao chất lượng sản phẩm. Năm 1996 đã đạt 7,6 tỉ trang in thành phẩm (13 x 19), doanh thu 63,35 tỉ đồng lợi nhuận 10,2 tỉ đồng và nộp ngân sách 9,5 tỉ đồng.

Xí nghiệp quốc doanh in số 1

Từ tiếp quản nhà in Tòng Bá của người Hoa, xí nghiệp sử dụng máy in ốp-xét tự động chuyên sản xuất bao bì cho ngành dược Sài Gòn (độc quyền in cho hãng Roussel). Năm 1977 xí nghiệp nhập thêm các cơ sở in Nam Đường, Huê Dương Ly Ky, Lương Hữu, Tân Đại Minh trở thành xí nghiệp in Hùng Vương rồi đổi tên là Xí nghiệp quốc doanh in số 1, do đồng chí Nguyễn Xuân Trường làm giám đốc đầu tiên. ít lâu sau, xí nghiệp này giao cho Ban Tài chính-Quản trị Thành ủy quản lý.

Xí nghiệp quốc doanh in số 2

Được xây dựng trên cơ sở các nhà in Vĩnh Lợi Hằng, Thiên Hoa, Đức Xương, chuyên in bao bì, làm giấy carton, có nhiều máy ốp-xét hiện đại và một máy in ống đồng 7 màu. Phần lớn công nhân là người Hoa, tay nghề giỏi nhưng nhiều người đăng ký xuất ngoại. Về sau, xí nghiệp đổi tên là Xí nghiệp in bao bì xuất khẩu thuộc Công ty bao bì xuất khẩu thành phố quản lý. Giám đốc xí nghiệp đầu tiên là đồng chí Bùi Văn Trạch.

Xí nghiệp quốc doanh in số 3

Từ tiếp quản nhà in Mai Lĩnh ở số 720, Trần Hưng Đạo (quận 5) do nhà chủ hiến cho chính quyền Thành phố, trước kia chuyên in vé số, khi mới thành lập do đồng chí Lê Văn Thông làm giám đốc. Hiện nay, xí nghiệp đổi tên là Xí nghiệp in Tài chính thuộc Sở Tài chính Thành phố quản lý, chuyên in vé số kiến thiết và giấy tờ biểu mẫu cho ngành tài chính.

Xí nghiệp quốc doanh in số 4

Hình thành do tiếp quản các nhà in Văn Hữu, nhà in Thanh niên, nhà in Trí Thức mới, nhà in Văn hóa Mỹ thuật, sáp nhập 3 xí nghiệp in tập thể số 2, 4, 7, trở thành một xí nghiệp lớn do đồng chí Nguyễn Văn Minh làm giám đốc.

Liên hiệp khoa học Sản xuất in (LIKSIN)

Thành lập năm 1985 nhằm đưa công nghệ mới vào sản xuất, là mô hình kết hợp giữa khoa học và sản xuất trong ngành công nghiệp in

Hạt nhân để thành lập LIKSIN là nhà máy in Tổng hợp. Nhà máy này được xây dựng trên cơ sở tiếp quản nhà in Nguyễn Bá Tòng của giáo hội đã hiến cho nhà nước, sáp nhập thêm các nhà in Hưng Đạo, Vipco.. Nhà máy in Tổng hợp có nhiều máy in ốpxét tốt, sử dụng máy sắp chữ mônôphin lúc đó thuộc loại hiện đại của thành phố.

LIKSIN đã đi đầu ngành in về trang bị và đưa vào sản xuất máy phân màu điện tử và đưa dấu chữ Việt Nam vào máy vi tính, áp dụng công nghệ sắp chữ điện tử thay cho việc sắp chữ chì. Tổng giám đốc đầu tiên của LIKSIN là đồng chí Phạm Quang Hưng.

Trên địa bàn Thành phố còn nhiều xí nghiệp in quốc doanh do các ngành quản lý. Dưới đây xin nêu vài xí nghiệp:

Xí nghiệp in Tem Bưu điện

Từ một xưởng in nhỏ xây dựng sau giải phóng gọi là xưởng in Bưu điện 2 tại số 750 Điện Biên Phủ (quận 10) thuộc công ty vật tư Bưu điện khu vực phía Nam, đến năm 1985 xây dựng mở rộng nhà xưởng tại số 270 Lý Thường Kiệt (quận 10) rồi chuyển thành Xí nghiệp in Tem Bưu điện trực thuộc Tổng cục Bưu điện.

Nhiệm vụ chính của xí nghiệp là in các loại tem Bưu chính. Cho đến cuối năm 1989, xí nghiệp chỉ có 3 máy ốpxét đặt tay, 1 máy typô nhưng đã nhận in các loại tem cước phí sử dụng trong nước, không phải đặt in ở các xí nghiệp khác. Năm 1990, nhờ đầu tư thêm hệ thống chế bản, chụp phim, nhân phim, phơi bản hệ thống máy cắt, đếm giấy tự động, máy ốpxét 4 màu tự động, đục răng tem tự động.. nên đã đảm nhiệm toàn bộ việc in tem Bưu chính Việt Nam (tem cước phí, tem chơi trong nước và xuất khẩu), không thuê in tem ở nước ngoài nữa. Ban lãnh đạo xí nghiệp gồm các đồng chí: Lê Văn Hoành, Nguyễn Quang Hội, Võ Thanh Sơn, Đoàn Quanh Vinh.

Xí nghiệp in Đường sắt Sài Gòn

Sau giải phóng, ngành đường sắt tiếp quản ấn quán hỏa xa Việt Nam chuyên in vé xe lửa và biểu mẫu các loại cho ngành: xí nghiệp có 13 máy typô các loại (in, dao xén, đục lỗ, bấm răng cưa, mài dao, lò đúc chì, máy in bìa cứng..). Năm 1983, Tổng cục đường sắt nâng cấp nhà máy thành xí nghiệp in Đường sắt Sài Gòn do đồng chí Lê Văn Liêm làm giám đốc. Xí nghiệp được trang bị thêm 5 máy in ốp xét khổ lớh, thải bỏ dần máy in typô, tổ chức lại sản xuất, nâng cao năng suất lao động.

Xưởng in Nguyễn Minh Hoàng

Từ một cơ sở in được ủy ban nhân dân quận 11 tiếp quản tại số 100, đường Lê Đại Hành, năm 1979, ủy ban nhân dân thành phố quyết định giao cơ sở này cho Sở Công an thành phố quản lý nhằm đáp ứng những ấn phẩm nội bộ ngành là chủ yếu, đồng thời cũng nhận in cho các nhà xuất bản các tòa báo, nhãn hàng, bao bì.v.v.. Để có đủ việc làm cho công nhân, xưởng còn sản xuất giấy carton sóng, kẻ giấy tập, thổi màng mỏng.v.v.. Giám đốc đầu tiên là đồng chí Mười Đức.

2. Các xí nghiệp Công ty hợp doanh in và Xí nghiệp in tập thể

Qua công tác cải tạo XHCN, ngành in Thành phố đã lần lượt thành lập 7 xí nghiệp Công ty hợp doanh in từ số 1 đến số 7. Đã cải tạo và tập hợn 12 hộ chế bản thành Xí nghiệp Công ty hợp daonh chế bản lấy mặt bằng của Cliché Dầu ở đường Phát Diệm (nay là Trần Đình Xu) làm văn phòng xí nghiệp do đồng chí Hồ Văn Xuân làm Giám đốc. Cải tạo các hộ đúc chữ Nam Dương, Viễn Giang, Viễn Hưng thành xí nghiệp công ty hợp doanh đúc chữ đóng trụ sở ở nhà đúc Nam Dương do đồng chí Huỳnh Văn Đông làm Giám đốc.

Trên ba trăm hộ tiểu chủ làm nghề in đã được tổ chức lại thành 10 xí nghiệp in tập thể từ số 1 đến số 10, đảm bảo công ăn việc làm cho gần 2000 người. Ngành in Thành phố có trách nhiệm đảm bảo cho các hộ in tập thể về các mặt công việc, giá cả, cán bộ, cung ứng vật tư và đổi mới thiết bị.

Năm 1985, toàn bộ xí nghiệp Công ty hợp doanh in và 10 xí nghiệp in tập thể được sắp xếp lại thành 7 xí nghiệp in quốc doanh từ xí nghiệp in số 1 đến số 7, chỉ còn lại Xí nghiệp Công ty hợp doanh số 8 (tập hợp 4 xí nghiệp in tập thể số 3, 6, 8, 10 với khoảng 500 công nhân và trên 100 máy).

Để thống nhất quản lý ngành in trên địa bàn Thành phố, tháng 3.1978, ủy ban nhân dân Thành phố đã thành lập Công ty Quốc doanh in Thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 23.10.1985 có quyết định thành lập Liên hiệp các xí nghiệp in Thành phố Hồ Chí Minh do đồng chí Nguyễn Kim Xuân (Mười Xuân) làm Tổng Giám đốc, các đồng chí Nguyễn Tấn Khởi (Tám Kiếng) và Nguyễn Thanh Liêm làm Phó Tổng giám đốc. Từ đó các xí nghiệp trực thuộc Liên hiệp được sắp xếp, củng cố lại tổ chức, xây dựng lực lượng lớn mạnh, đầu tư hiện đại hóa để đạt hiệu quả kinh tế cao, phục vụ yêu cầu phát triển của một trung tâm công nghiệp, chính trị văn hóa lớn của cả nước.

Ngành in Thành phố những năm sau giải phóng, ngoài việc khắc phục những khó khăn trong công tác cải tạo, xây dựng lại lực lượng đảm bảo yêu cầu của giai đoạn mới còn phải giải quyết hai vấn đề lớn: phân phối máy móc cho toàn ngành in và tham gia sản xuất giấy.

Trên thực tế, hầu như toàn bộ thiết bị hiện đại phía Nam được tập trung ở Sài Gòn, do đó theo chủ chương chung, cần phân phối một số máy in của Thành phố cho các tỉnh và các đơn vị ở Trung ương.

Theo quy định, các máy in ốp xét hiện đại chỉ được phân phối cho Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và 4 trọng điểm là Hải Phòng, Nghệ Tĩnh, Quảng Nam-Đà Nẵng và Hậu Giang, nhưng tỉnh nào cũng muốn có máy in hiện đại, do đó cũng gây nhiều khó khăn, thậm chí tiêu cực trong việc phân phối máy theo chế độ bao cấp. Hơn nữa, để tránh thất nghiệp, lạicó quy định tỉnh nào nhận máy thì phải nhận luôn công nhân, nhưng trong thực tế, đa số công nhân Thành phố không chịu dời chỗ về sinh sống ở các tỉnh nên chỉ đi giúp các địa phương tự lực được rồi trở về Thành phố. Tuy vậy, cũng có nhiều nơi, công nhân theo máy đã ở lại cả năm trời, được các tỉnh bạn hoan nghênh. Với những địa phương không có vật tư kỹ thuật, thành phố cũng phục vụ luôn, từ đó tăng cường quan hệ mật thiết giữa thành phố và các tỉnh.

Cuối năm 1979, nhiều chủ hộ in tập thể hưởng ứng lời kêu gọi, đã hiến máy để xây dựng lại 6 nhà in ở các tỉnh biên giiới phía Bắc bị chiến tranh xâm lược phá hoại.

Vấn đề này in phải sản xuất giấy xuất phát từ khó khăn thực tế của Thành phố sau giải phóng. Đến năm 1977, kho giấy tiếp quản đã cạn, kế hoạch nhập giấy của Trung ương gặp trở ngại, còn Thành phố thì chưa có kế hoạch nhập giấy của nước ngoài.

Trước nguy cơ bị thất nghiệp, Công ty in Thành phố chủ trương chuyển một số chủ hộ in góp vốn, lao động và kỹ thuật để sản xuất giấy. Kết quả cuộc vận động đã thành lập được các hợp tác xã làm bột giấy như: Trường Sơn, Đồng Tháp, Bình Chánh, Bến Nghé, xí nghiệp công ty hợp doanh bột giấy Tây Hưng. Ngành còn tiếp quản nhà máy giấy Vĩnh Huê. Các cơ sở làm bột giấy chủ yếu theo phương pháp thủ công: dùng dao phay chặt rơm, chẻ, chặt lồ ồ để ngâm làm bột.. Về sau các xí nghiệp in lớn cũng tổ chức phân xưởng sản xuất giấy, cuối cùng có hàng trăm cơ sở tổ hợp sản xuất bột và giấy trên địa bàn thành phố với sản lượng hàng năm khoảng 3000 tấn. Nhờ có giấy mà bảo đảm được kế hoạch in của Thành phố là 25 tỉ trang in/năm, giải quyết công ăn việc làm cho gần một vạn công nhân.

Ngoài ra, ngành in Thành phố còn tích cực giúp đỡ cho cách mạng Campuchia. Một nhà in được xây dựng tại Thủ Đức để phục vụ in ấn tài liệu cho Campuchia do đồng chí Trịnh Văn Muôn làm giám đốc. Các nhà máy in Trần Phú, Hợp doanh 1, Hợp doanh 7 nhận nhiệm vụ in sách báo cho nước bạn. Thành phố cử đoàn cán bộ do đồng chí Nguyễn Tấn Khởi dẫn đầu sang giúp bạn xây dựng nhà in Phnompênh.

Từ khi bước vào giai đoạn đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường, ngành in Thành phố đã khởi sắc, khai thác những tiềm lực sẵn có, tăng cường hợp tác quốc tế, đổi mới thiết bị, công nghệ, nâng cao chất lượng in ấn và năng suất lao động, đạt hiệu quả kinh tế-xã hội cao hơn trước. Tuy nhiên để tiến kịp trình độ thế giới với trách nhiệm đi hàng đầu trong công nghiệp in của cả nước, ngành in Thành phố còn nhiều việc phải làm và cần có thời gian để xây dựng. Mặt khác cũng không kém phần quan trọng là khắc phục một số biểu hiện lơi lỏng trong quản lý, tạo sơ hở cho những ấn phẩm xấu làm vẩn đục đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, khắc phục hoạt động in ấn trái phép v.v.v.

Ngành in Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh đã có bề dày lịch sử hơn một trăm ba mươi năm, nếu chỉ tính từ khi thực dân Pháp xâm chiếm Thành phố. Trải qua hơn một thế kỷ tồn tại và phát triển với nhiều bước thăng trầm, không chi do quy luật cạnh tranh của kinh tế thị trường mà còn do vị trí quan trọng của ngành với tính cách là một công cụ, một phương tiện đắc lực về mặt thông tin văn hóa-chính trị của chế độ xã hội, của các phong trào đấu tranh.

Những chiến sĩ cách mạng trong ngành in Thành phố từ những buổi đầu phục vụ gây dựng phong trào bằng các phương tiện in thô sơ, hoạt động bí mật hay công khai đầy nguy hiểm trong lòng địch, chịu đựng hy sinh gian khổ trên chiến khu kháng chiến rồi phấn đấu vượt qua những thử thách trong hoà bình xây dựng để hoàn thành nhiệm vụ của mình. Sản phẩm của ngành dù là tờ truyền đơn, sách báo, tài liệu cách mạng, bằng phương pháp thủ công hay máy móc hiện đại đều in đậm mồ hôi, có khi cả xương máu của người chiến sĩ ngành in.

Mong rằng, những sự kiện về hoạt động, về con người v.v.. trong lịch sử vẻ vang hàng thế kỷ của ngành in Thành phố sẽ được ghi chép lại đầy đủ, cẩn thận, có hệ thống để có sự đánh giá toàn diện và sâu sắc nhằm rút ra những bài học quý báo cho sự nối tiếp truyền thống trong sự phát triển tương lai đầy hứa hẹn của ngành.

(ST: Bài viết trích đăng từ website của Bộ VH - TT. Một số thông tin hiện tại đã thay đổi.)
 
thuminhnguyen_tk
Tìm hiểu ngành in ở TP. Hồ Chí Minh mà không có tìm hiểu ngành in ở Hà Nội giống như có trăng quên đèn ấy nhỉ. Các anh chị em có thấy là như vậy không?
 
lethingocthem
Bài hay quá!

ANh chị nào có những số liệu thống kê của ngành in tại Sài Gòn và Hà Nội hiện nay không, chia sẽ với minh với

le.ngoc.them@ferrostaal.com

Chân thành cám ơn nhiều.
Ngọc Thêm
Không thể hiện chữ ký vì tài khoản chưa đủ 20 bài viết!
 
Di chuyển nhanh đến:
Xử lý trang trong vòng: 0.13 giây
Diễn đàn đã có 60,401,564 lượt truy cập